Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

THÁI BÁ TÂN BẤT TÀI, NGU DỐT VÀ PHẢN ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

ĐÔNG LA
THÁI BÁ TÂN BẤT TÀI, NGU DỐT
VÀ PHẢN ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

Tôi đã viết nhiều bài cả khen lẫn chê về những tên tuổi hàng đầu của nền văn chương Việt Nam, từng coi Nguyên Ngọc không ra gì, phê phán cả Nguyễn Khoa Điềm, một nhà thơ kiêm cựu UVBCT, nên trong con mắt tôi không có “Nhà thơ Thái Bá Tân”, chỉ biết sơ sơ là một dịch giả, mà dịch giả thuộc loại tài năng ít tài nhất trong lĩnh vực sáng tác.  Nhưng mấy năm gần đây Thái Bá Tân lại trổ tài sáng tác loại thơ 5 chữ xỏ xiên và diễu cợt chế độ trở thành một nhân vật vừa nổi tiếng vừa tai tiếng.  Có lẽ Thái Bá Tân đã bắt chước kiểu thơ của ông Xuân Sách. Trước Thái Bá Tân rất lâu Xuân Sách cũng làm thơ “Chân dung văn học” nhưng không “chửi” chế độ mà phần nhiều chửi những người thành danh trong lĩnh vực văn chương. “Chân dung văn học” làm Xuân Sách nổi tiếng đến mức người ta không còn biết đến thơ chính thống của Xuân Sách nữa. Loại thơ đó thành công vì Xuân Sách đã “gãi đúng chỗ ngứa” của thói đố kỵ, ganh ghét trong giới văn chương, những kẻ bất tài cay cú trước sự thành danh của những người có tài, mà những kẻ bất tài thì luôn rất nhiều. Con người dù tốt đến mấy ai cũng có những điểm xấu nên Xuân Sách chỉ xoáy vào mấy điểm xấu để “vẽ” chân dung người ta thì tôi thấy Xuân Sách cũng chỉ thuộc loại người nhỏ nhen, xấu xí. Noi theo Xuân Sách nhưng Thái Bá Tân không vẽ chân dung con người mà vẽ “chân dung xã hội”. Thái Bá Tân cũng lợi dụng những chuyện chưa tốt của xã hội để “gãi đúng chỗ ngứa” dư luận đểu bằng những bài thơ nôm na, xỏ xiên, diễu cợt, phản bác tất cả những giá trị thuộc về xã hội hiện tại. Những cái xấu, cái kém đúng là còn rất nhiều ở xã hội VN, có điều những xã hội phát triển nhất cũng có. Những người có trí, có tâm sẽ viết phản biện với tinh thần xây dựng, chính tôi đây cũng đã viết nhiều, thậm chí còn viết đơn kiện giúp dân oan, chứ không ai lại đi viết kiểu như Thái Bá Tân. Thái Bá Tân trở thành một người nổi tiếng, có tài nhưng là tài năng kích động dư luận bầy đàn chứ không phải tài năng văn chương đích thực; đã làm ra được những tác phẩm phản giá trị chứ không phải có giá trị. Vậy làm thơ như thế nào thì là người có tài, thơ như thế nào là thơ có giá trị, là thơ hay?
Tôi đã viết rất nhiều để chỉ ra thế nào là thơ hay, thế nào là một thi sĩ có tài. Như trong cuốn “Biên độ của trí tưởng tượng” có bài “Hành trình thơ ca” rất dài; tôi cũng đã bình thơ của hai người điển hình ở hai thế hệ là Chế Lan Viên và Nguyễn Quang Thiều;  tôi đã viết về chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hậu hiện đại; tranh luận về đổi mới thơ ca khi phê bình quan điểm làm thơ của Trần Dần, Lê Đạt; v.v… Nên tôi thấy trả lời được câu hỏi “Thế nào là thơ hay” cả Hội Nhà Văn VN và không ai trên thế giới có thể trả lời được. Vì quan niệm về sự sáng tạo văn học nghệ thuật đúng là loạn xà ngầu, trong đó ở nước ta có chuyện cho loại thơ bố láo, mất dạy, phản thẩm mỹ, phản đạo lý và phản nhân tính là thơ “hay”. Dù vậy nếu dựa vào những điều cơ bản, dựa vào bản năng thẩm mỹ của loài người thì Nhà Phê bình Lý luận Đông La hoàn toàn có thể trả lời được “thế nào là thơ hay?”
***
Với thơ hiện đại, niêm luật, vần điệu không còn là quan trọng. Cũng như hội hoạ hiện đại vẽ giống thật không là quan trọng. Mà trước hết nhà thơ phải có sự sáng tạo. Trong ngôn ngữ phê bình người ta hay nói nhà thơ sáng tạo là phải có “tứ thơ”. Ý là cái chung của mọi người, còn tứ là cách thể hiện riêng của nhà sáng tác cái ý chung ấy. Khi ấy ý thơ sẽ có tứ, bài thơ sẽ có cấu tứ. Khi ấy thi sĩ thường viết ra được những câu thơ rất độc đáo, là ngôn ngữ riêng, là cách viết duy nhất mà nhà thơ viết ra. Thực tế có rất nhiều người mang danh Hội viên Hội Nhà Văn VN, nhưng với cả đời làm thơ cũng rất khó chọn ra được một vài câu như thế.
Ví dụ để tả tình, tả cảnh Thúc sinh từ biệt Thúy Kiều Nguyễn Du đã viết hai câu thơ bằng “cách của Nguyễn Du”, đã trở thành bất hủ mà gần như người VN ai có đi học đều biết:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường
Chế Lan Viên làm bài thơ “Con cò”, không phải tả con cò thực mà là con cò trong lời ru cô con gái của ông ngủ, chỉ có tài năng của một thi sĩ mới khiến ông viết ra hai câu thơ thơ mộng như thế này:
Con đi ngủ thì cò cũng ngủ
Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
            Còn tôi, trước mắt Chế Lan Viên tôi chỉ là một dứa trẻ, tại sao lần đầu đọc những bài thơ đầu tay của tôi với tư cách trong ban giám khảo một cuộc thi ông lại tự quyết trao giải thưởng cho tôi, sau đó còn đến báo Văn nghệ TPHCM gởi gắm, còn tự đứng tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà Văn TPHCM? Đơn giản là vì tôi phải có tài làm thơ thật.
Hôm nay với sự thách thức của “thầy Phúc Anh” tôi sẽ chứng minh tiếp tôi có tài như thế nào và Thái Bá Tân bất tài như thế nào? Cũng là dịp hiếm để tôi tâm sự về những điều tinh tế, cao sâu của chuyện sáng tác thơ ca giữa cái thời thực dụng nhố nhăng này.
***
Như viết ở trên nhà thơ có tài là phải viết ra được những câu thơ độc đáo, những câu của riêng mình. Tôi đã viết được rất nhiều như vậy nhưng với tinh thần “trọng chứng hơn trọng cung” tôi chỉ kể ra những câu thơ, bài thơ được những nhân vật có danh tiếng khen mà thôi.
Trước nhất là hai câu thơ mà tôi đã nhiều lần “khoe” khi viết ở Leningrat 1990 đã được rất nhiều người thích:    
Anh xa em gần nửa vòng Trái Đất
Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa Cầu
Nhớ nhau là chuyện của muôn thuở, nhưng viết “nỗi nhớ cong” thì chỉ có tôi viết như thế mà thôi.
Tương tự như vậy tôi viết về nỗi cô đơn:
            Anh như con thuyền lênh đênh sóng nước
            Nghiêng bên nào cũng chạm phải cô đơn
Hôm ấy đang chở Nhà văn Nguyễn Bản, một người viết truyện ngắn rất nổi tiếng, rất hay, nghe tôi đọc, ông hỏi: “Thơ ai mà hay thế?”/ “Thơ em đấy”.
Còn Nhà thơ Hải Như, tác giả lời bài hát “Thành phố hoa phượng đỏ” gọi điện cho tôi nói “Nếu tôi có quyền sẽ cho chùm thơ của anh giải nhất” chính là điều ông nói về chùm thơ trong đó có bài “Cánh đồng quê” của tôi. Nhà thơ Lê Huy Mậu, tác giả lời bài hát “Khúc hát sông quê” mà Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc, cũng rất thích bài đó, còn làm hẳn một bài thơ tặng tôi nữa. Ông TS Dung, giờ làm Trưởng khoa Sử ở ĐHXH&NV TPHCM khi đọc xong chùm thơ đó trước mặt tôi nói: “Đọc thơ anh rồi em không còn đọc được của ai nữa!”.
Cánh đồng quê là một đề tài quá quen thuộc nhưng tôi đã viết hoàn toàn khác như thế này:
“Đất như bị lột da vẫn không kịp cho những vụ 
                                                                   chiêm mùa
Những vụ mùa xếp hàng chờ nhau đến lượt
Không ủ ấm được bao cuộc đời bao số phận 
                                                  mong manh
Khi những đám mây như bị phơi khô trong mùa 
                                                            hạn hán
Mặt đất cũng bị nghiêng khi mùa nước lụt tràn đê”;
Rồi:
“Sao là “Cánh”, sao là “đồng”, sao lại “Chùa Mô”,
                                             “Đằng Miều”, “Con Cóc”?
Những cái tên lạ lùng đã khắc dấu hồn ta
Nhớ vệt bùn hôm nao em làm ta lấm áo
Em đã đền nụ cười sáng cả chiều quê
Bộ ngực trinh nguyên đã rung lên
                                                     dưới lớp áo mờ”.
            Nhưng ngôn ngữ độc đáo chỉ là một phần thể hiện tài năng của thi sĩ mà quan trọng hơn, quan trọng nhất nhà sáng tác phải làm ra được những tác phẩm có tư tưởng lớn, những ý tứ cao sâu. Về điều này, tôi cũng làm thơ với tinh thần phản biện nhưng không nôm na, mách qué, xỏ xiên như Thái Bá Tân mà dùng ngôn ngữ nghệ thuật, giàu hình ảnh để có thể  biểu đạt, biểu cảm những tâm tư trước những thực trạng chưa tốt của xã hội, của đời sống con người. Với những độc giả hiểu biết và nhạy cảm chứ không phải loại “đàn gảy tai trâu” đọc thơ họ sẽ mở ra cả những chân trời liên tưởng.
Chỉ là cái chuyện chở con đi học nhưng tôi đã viết một bài thơ làm cho các giáo viên dạy cùng trường với bà xã tôi rất thích, trong đó có đoạn như thế này:
“Không chỉ văn chương, không chỉ khoa học
Nghề của cha là nghề đưa các con đi học
Cha chở các con mà như chở thời thơ ấu của mình…
Ngày ngày cha chở các con trên những con đường Sài Gòn như những dòng sông luôn dâng lên vô tận           
Chi chít người xe
Chi chít số phận
Tất cả bị bó chặt bởi những giới hạn
Nhưng các con có biết không?
Chúng ta đang đi trong giới hạn không phải của lề đường mà giới hạn của những suy nghĩ
Chúng không thể mở ra bằng xẻng cuốc mà chỉ bằng những con chữ”.
Nguyễn Quang Thiều khoảng 1998 còn làm long toong, biên tập viên ở Báo Văn nghệ, còn thân tôi lắm, sau khi đăng cho tôi bài thơ “Những nhịp cầu” gọi cho tôi nói: “Ông Thỉnh bảo thơ Đông La hay quá, kỳ này bảo Đông La tham gia cuộc thi thơ đi”. Bài thơ tôi nói về công lao vĩ đại, cao nhất của người nông dân là làm ra cái ăn, cái mặc cho cả loài người nhưng họ lại được trả công thấp nhất, luôn ở tầng thấp nhất của xã hội:
            NHỮNG NHỊP CẦU

Cong cong như lưng ong
Cong cong như lưng tôm
Như mẹ tôi
Như ông nội tôi
Như Tổ Tiên tôi
Những nhịp cầu
Trên bao cánh đồng quê

Không phải bằng sắt thép bê tông
Những nhịp cầu xương thịt
Không phải để dòng sông chảy qua
Mà máu chảy
Không phải để xe cộ đi qua
Mà lịch sử đi qua

Trên đó có bước đi của văn minh
Có bước đi của vinh quang

Cuộc sống đã vươn tới những tầm cao nhất
Luôn ở tầng thấp nhất những nhịp cầu.

            Lại Nguyễn Quang Thiều, sau khi đăng bài thơ ngắn “Những cái xác” của tôi gọi: “Đến bài này của ông thì hay hơn Chế Lan Viên rồi!”. Tôi thầm nghĩ “Mẹ kiếp! Yêu cái thằng Thiều này quá đi!” Không phải vì Thiều khen tôi hay hơn Chế Lan Viên vì với Chế Lan Viên tôi luôn coi ông không chỉ là thầy mà còn là cha và tôi hiểu Thiều không nói theo nghĩa đen.  Chế Lan Viên” được Thiều dùng như là một tính từ để so sánh cho tiện khi ông bạn “bốc” lên. Tôi thấy “yêu” Thiều quá chính là vì bài thơ tôi viết quá ngắn, quá khái quát, quá kín đáo vậy mà Thiều vẫn hiểu và cảm được. Bạn bè tri kỷ tâm giao chính là như vậy. Bài thơ chỉ có 4 câu như thế này:
                                   
NHỮNG CÁI XÁC

                        Những cánh hoa sặc sỡ
                        Nằm sõng soài trên thảm cỏ biếc
                        Con ba tuổi ngây thơ
                        Say sưa cóp nhặt.

            Giờ thấy bài thơ giống y như thơ Haiku của Nhật dù rằng khi viết vào năm 1988 tôi chưa để ý thơ Haiku là cái gì. Hôm ấy hai vợ chồng dẫn thằng con đi chơi ở sân chùa Vĩnh Nghiêm thấy nó cứ nhặt những cánh hoa rơi gom lại. Tôi thấy hình ảnh đó gợi ra một tứ thơ rất hay, có thể biểu đạt những điều lớn lao mang tầm nhân loại. Chỉ mất mấy giây tôi đã làm xong ở trong đầu. Nhưng chỉ tài năng cỡ Nguyễn Quang Thiều mới có thể cảm được kiểu viết cô đọng này còn loại như Thái Bá Tân thể hiện tài trí qua chuyện dịch thơ Haiku trong bài tôi đã đăng thì sẽ chỉ là “đàn gảy tai trâu” mà thôi!
Còn rất nhiều nữa kể hết sẽ thành một cuốn sách mất. Vậy tôi có tài thế sao không nổi tiếng? Người ta biết tôi cãi nhau là chủ yếu chứ có mấy người biết tôi làm thơ? Đó chính là lỗi của cả lĩnh vực văn chương, cái lỗi sinh ra một nghịch lý có thật, người có tài thì không nổi tiếng, người nổi tiếng lại là kẻ bất tài! Đó cũng là lỗi của cả giới truyền thông và chính là lỗi hệ thống của cả xã hội VN.  Tôi cũng có lỗi là viết mà không biết lách, có tài mà không biết diễn. Phải như Trần Mạnh Hảo khoe gặp từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Văn Linh, phải như Nguyễn Duy thân thiết như người nhà với Võ Văn Kiệt. Còn tôi, ai cần tôi thì cần chứ cóc cần ai. Tôi từng gặp ông Nguyễn Minh Triết tại nhà riêng trước khi làm chủ tịch nước, ông đã giới thiệu tôi về báo Thanh niên khi nó còn là “tuần tin”, nhưng đó chỉ là lần duy nhất. Một lần được mời đi họp lý luận phê bình, chủ toạ đoàn đang ngoẹo cổ nghe Chủ tịch Trương Tấn Sang phát biểu, tôi đã bỏ về đi đón cô Hoà từ Bắc vào, vì với tôi cô Hoà quan trọng hơn ông Trương Tấn Sang. Tóm lại tôi đã có rất nhiều cơ hội làm quen để dựa vào những ông to tiến thân nhưng tôi không một lần làm thế. Hiện tại xã hội VN có nhiều người do tài “diễn” mà thành danh, thành đạt ghê ghớm nhưng lại rỗng tuếch, thậm chí có quan điểm, nhận thức rất sai trái. Như tôi đã viết về “GS Viện sĩ” Phan Huy Lê, GS Nguyễn Minh Thuyết; “Nhà Sử học” Dương Trung Quốc và hai nhà thơ mà tôi rất biết kể trên là Nguyễn Duy và Trần Mạnh Hảo; và v.v…
            *** 
            Còn Thái Bá Tân, thần tượng của “thầy Phúc Anh”?
            Bài thơ đầu tiên tôi chú ý là bài ông này làm về chuyện biểu tình chống TQ, trong đó có những câu huỵch toẹt công kích “Đảng”, cho “Nhà nước” hèn:
“Mày láo, dám khuyên bố
Mai không đi biểu tình.
Chuyện ấy có nhà nước,
Không liên quan đến mình.
Mày nói y như đảng.
Không liên quan thế nào?
Nước là của tất cả,
Của mày và của tao.
Mày bảo có nhà nước.
Nhà nước hèn thì sao?
Mà ai cho nhà nước
Quyết việc này thay tao?"
Tôi đã viết trong quá khứ nước ta không thể tay trắng giành độc lập mà buộc phải nhờ vả thiên hạ, mà sự giúp đỡ của “anh cả”, “anh hai” (LX và TQ) đều quan trọng cả. Nhưng không vì thế mà các nhà lãnh đạo VN ở các thời kỳ “hèn” như Thái Bá Tân viết láo lếu như trên. 
Trung Quốc, sau Hiệp định Paris 1973, muốn duy trì nguyên trạng ở Ðông Dương. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K.Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ: "Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại.
Nhưng cuối cùng, chúng ta vẫn vượt qua sự toan tính vụ lợi ích kỷ đó và đã giành chiến thắng, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất!
Nhìn lại cuộc chiến Biên giới 1979, nguyên nhân chính cũng là vì nước ta đã không “hèn”. Chúng ta đã thẳng thừng từ chối vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, chúng ta đã đuổi việc Hoa kiều nào không nhập quốc tịch Việt; đóng cửa các báo và cơ sở giáo dục tiếng Hoa… đã gây ra một làn sóng Hoa kiều hồi hương khiến cho Bắc Kinh nổi giận. Từng viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỷ đô la, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trong suốt hơn hai mươi năm, họ đã cho chúng ta là kẻ "vô ơn"! Họ đã cắt Viện trợ, xúi Khmer Đỏ xâm lược VN và cuối cùng xua quân trực tiếp tấn công VN!
Còn những cuộc biểu tình chống TQ xâm lấn biển đảo mà Thái Bá Tân viết thực tế đã trở thành quá khích, kéo dài đến mấy tháng trời, đã gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sản xuất. Trong đó, đã có những chứng cớ cho thấy có sự kích động của thế lực thù địch, mượn cớ biểu tình chống TQ chống luôn thể chế VN, gây bạo loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia. Vì thế chính quyền mới vận động, thuyết phục giải tán biểu tình. Người trí thức thứ thiệt phải hiểu và cần phải chỉ ra cho cái dư luận bầy đàn hiểu, có đâu như bọn Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Chu Hảo , Quang A, Xuân Nguyên, v.v… và Thái Bá Tân lại đi theo đuôi bọn phản động, lợi dụng chút danh tiếng mà chế độ ban cho, kích động thêm bọn dân ngu cu đen làm loạn! Tôi đã viết chỉ cần biểu tình mà làm TQ sợ thì tôi sẽ vận động, không chỉ cả nhà mà cả họ nhà tôi, cả con mèo nữa cũng sẽ tham gia biểu tình. Tiếc là những cuộc biểu tình quá khích không chỉ gây mất trật tự công cộng mà còn làm khó cho công việc hóa giải mâu thuẫn như ông cựu PTT Vũ Khoan nói: “Lãnh đạo mà có được người dân nhiệt tình yêu nước thì còn gì hơn! Chỉ có điều cách thể hiện lòng yêu nước sao cho có lợi nhất cho đất nước. Những người thể hiện lòng yêu nước cao đẹp nhất là các chiến sỹ ở hải đảo không quản ngại gian nan, giữ vững chủ quyền. Tôi vô cùng khâm phục họ, nhất là các chiến sỹ ở những điểm DK nhỏ xíu giữa biển khơi mênh mông, sóng bão bịt bùng mà vẫn kiên định. Tôi cứ trộm nghĩ phong tặng danh hiệu Anh hùng cho tất cả những người đó cũng xứng đáng!”
Còn Thái Bá Tân tất cả những năm tháng chiến tranh toàn núp váy đàn bà, bây giờ già rồi bày đặt anh hùng, thùng rỗng kêu to, nhố nhăng quấy rối trên đường phố, nếu còn chút sĩ diện thì nên câm mồm đi là hơn!
Đặc biệt Thái Bá Tân rất mất dạy, rất láo, rất ngu xuẩn, rất phản động khi viết một bài thơ chửi ĐT Võ Nguyên Giáp trong đó có đoạn như thế này:
Tôi không yêu, không ghét
Ông tướng cộng sản này.
Kính trọng cũng không nốt,
Vì ba điều sau đây.
Một, thua xa Trần Độ,
Đến trăm tuổi, mà rồi
Vẫn nghĩ cộng sản tốt,
Không hối hận, theo tôi,
Đó là sự mù quáng,
Là giáo điều nặng nề.
Riêng việc ấy cho thấy
Đầu óc có vấn đề.
Hai, người ta nhẫn nhục
Để phục quốc cứu người.
Ông thì hèn, chịu nhục
Để được sống hết đời.

Chỉ riêng bài này Thái Bá Tân đã đủ tiêu chuẩn đi tù rồi. Tiếc là pháp luật nước ta chưa được nghiêm minh mức đó. Bị chửi nhiều quá Thái Bá Tân đã gỡ bài này cũng chứng tỏ là một thằng hèn. Còn tôi đã viết ra cái gì là sẽ chiến đấu bảo vệ đến cùng ý của mình, chỉ khi nào có người chỉ ra đúng cái sai của mình tôi mới sửa.
Thái Bá Tân cực kỳ hỗn láo, ngu xuẩn và phản động khi cho Võ Nguyên Giáp “thua xa Trần Độ” vì “vẫn nghĩ cộng sản tốt” bởi ông “mù quáng”, “giáo điều nặng nề”.
Về hai vị tướng này, tôi cũng đã một lần so sánh:
“… có những vị từng là thuộc cấp của bác (Võ Nguyên Giáp), từng lập những chiến công khi hoàn thành những nhiệm vụ trọng yếu trong hai cuộc kháng chiến, chỉ vì thất sủng đã lộn ngược tất cả, như Tướng Trần Độ chẳng hạn. Trần Độ khi đương chức đã coi Chủ nghĩa Mác – Lê nin như mặt trời chân lý sáng soi, nhưng khi mất chức lại coi như cái bánh vẽ khổng lồ! Khi Trần Độ mất, bác Đại tướng vẫn gởi vòng hoa viếng, thể hiện lòng nhân từ, nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng về chính kiến, rõ ràng bác không công bố bất cứ một chữ nào ủng hộ sự thay đổi quan điểm của Trần Độ”.   
Thái Bá Tân chỉ là một thằng học ngoại ngữ mà ngoại ngữ chỉ là công cụ để hiểu tri thức chứ không phải tri thức, Thái Bá Tân đã ngu không hiểu điều đó nên đã rất mất dạy và phản động khi viết về “cộng sản” như trên. Nếu là một người sống ở miền Nam theo VNCH thì viết như trên là hoàn toàn bình thường. Triết học cũng như tất cả các tri thức khác, hiểu đúng, vận dụng đúng để có thành quả là chuyện rất khó, phải có trải nghiệm và có khi phải trả giá rất đắt. Vì ấu trĩ chúng ta từng có “cộng sản” kiểu Cải cách ruộng đất, “cộng sản” kiểu đánh kinh tế cá thể, v.v… Trên thế giới cũng có “cộng sản” kiểu Liên-xô, “cộng sản” kiểu Trung Quốc, “cộng sản” kiểu Triều Tiên và tệ hại nhất là “cộng sản” kiểu Khơ me Đỏ Pôn Pốt! Riêng Việt Nam, dù chúng ta có những sai lầm do ấu trĩ nhưng tổng thể nhờ Chủ nghĩa Cộng sản từ một nước nô lệ, bị xoá tên trên bản đồ thế giới, năm 1945 2 triệu người chết đói, chúng ta đã giành lại nền độc lập, hoà bình, thống nhất đất nước. Dù hiện tại còn nhiều yếu kém và tệ nạn nhưng so với quá khứ nô lệ, tối tăm, đau khổ thì nước ta vẫn đúng là thiên đường. Chỉ có người hoàn toàn vô học, mất trí mới không thấy, còn loại như Thái Bá Tân không phải không thấy mà cố tình tự đâm mù mắt mình để không thấy vì đủ thứ hoang tưởng và danh hão, hoàn toàn mất nhân tính. Thái Bá Tân đã không còn chút xấu hổ khi mình là kẻ “ăn cháo đái bát” bởi đã trắng trợn tự thú: “tôi còn ăn lộc của chế độ vì được ăn học tử tế”! Nếu mày chê Bác Giáp hèn vì vẫn tin theo cộng sản, mày có bản lĩnh thì hãy trả hết lương bổng về rừng mà lập căn cứ chống cộng sản đi chứ!
            Vì chỉ được học ngoại ngữ, Thái Bá Tân quá đần độn nên không thể hiểu được bản chất sâu xa nhất của Chủ nghĩa Cộng sản như ghi trong “Tuyên ngôn” là chống lại sự bóc lột và sử dụng sự bóc lột đó để nô dịch người khác. Vì trong lịch sử, triết học, ý thức hệ luôn bị phía chính trị đối kháng xuyên tạc để công kích nên không không bao giờ được hiểu đúng. Như nước Mỹ luôn chống Cộng sản nhưng họ lại đưa ra Chủ nghĩa Cộng hoà, bình đẳng, đưa ra Tuyên ngôn giải phóng nô lệ, tức cũng theo tinh thần Cộng sản. Hôm bên Mỹ, trong một bữa tiệc, một ông từng là sĩ quan Nguỵ nói với tôi với thái độ phê phán: “Chính Mỹ mới là Chủ nghĩa Xã hội vì chính sách đóng thuế quá cao cho phúc lợi xã hội tạo ra lớp người lãn công, ỷ lại vào chính sách trợ giúp của nhà nước”.
            Vì vậy chỉ có ngu, muốn hãnh tiến, Thái Bá Tân mới láo lếu chửi Bác Giáp vẫn còn “mù quáng” tin theo “cộng sản” như thế.
            Thái Bá Tân viết tiếp về Bác Giáp:

Hai, người ta nhẫn nhục
Để phục quốc cứu người.
Ông thì hèn, chịu nhục
Để được sống hết đời.

Khi Bác Giáp mất tôi đã viết bài: BÁC ĐẠI TƯỚNG, MỘT CON NGƯỜI VĨ ĐẠI, MỘT THÁNH NHÂN .
Tôi vốn không mê tín và thần phục bất cứ ai do tuyên truyền một chiều mà luôn khách quan, muốn tỏ thái độ như thế nào là phải xuất phát từ thực tế. Nên đã viết:
“Mọi chuyện đồn thổi xung quanh tướng Giáp vì nhà nước không công bố, bản thân bác cũng không có ý kiến, chứng tỏ sự bỏ qua như vậy giống như sự phá chấp của nhà Phật vì sự nghiệp chung là cần thiết. Chỉ những bọn xấu vốn nhìn mọi chuyện xấu theo nhãn quan của mình đã xiên xẹo, thêm thắt, phóng đại lên. Trước kia thì truyền khẩu, ngồi lê đôi mách, nay có internet thì tung lên mạng. Những người, những tổ chức đài, báo sống bằng nghề chống phá VN đã vớ bẫm, hít hà tung hô. Vì vậy về chuyện thâm cung bí sử quanh bác Đại tướng, tôi nghĩ có lẽ đã có một nhóm muốn dựa vào uy tín của bác thực hiện tham vọng, bác là người vốn luôn tôn trọng tổ chức đã không nghe theo nên vụ việc đã bị ngăn chặn, một số người đã bị kỷ luật, chính họ đã làm liên lụy và làm vấy bẩn thanh danh của bác”;
“… giả sử những chuyện “thâm cung” quanh đời bác Đại tướng mà bọn mất dạy kể là có thật đi chăng nữa thì qua đó cũng thấy nhân cách của bác thật vĩ đại, một vị tướng từng chiến thắng bao quân thù, nhưng với đồng chí, đồng bào, ông lại thật khoan dung, độ lượng. Đó là một thái độ điềm đạm nhưng rất kiên quyết bác bỏ sự bịa đặt, không vì địa vị cá nhân mà tất cả chỉ vì dân vì nước; dù là một công thần uy tín hàng đầu trong nhân dân, nhưng bác luôn đề cao tinh thần đoàn kết và tôn trọng tổ chức. Qua đó ta thấy bác không chỉ là một nhân vật vĩ đại mà còn có cốt cách của một thánh nhân. Đó chính là thái độ được hòa quyện bởi một nhà văn hóa và một thiền sư. Chứ bác hoàn toàn khác những người lớp đàn em, đàn cháu thuộc cấp, mất tí quyền lợi, tí danh tiếng, đã vội trở cờ, lật lọng, lộ nguyên hình bản tính xôi thịt, tầm thường của mình. Vì thế danh tiếng của bác sẽ mãi mãi ngời sáng. Theowikipedia, Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ viết:“Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao... Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử”. Suốt cuộc đời mình, ông đã thắng 10 đại tướng của Pháp và Mỹ. William Westmoreland gọi ông là "Tướng huyền thoại" (Legendary Giap)!”
Vì vậy viết như trên Thái Bá Tân cũng lại rất hỗn xược, rất láo.
***
Về tài thơ của Thái Bá Tân thì Thái Bá Tân thuộc loại bất tài vì ngoài sự sai trái do ngu dốt thằng này cũng chỉ làm ra được thứ ngôn ngữ thơ không phải ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ giầu hình ảnh như tôi viết ở trên mà là thứ văn vần, nôm na, một loại thơ “con cóc”. Nếu không hại gì để chọc cười thiên hạ giúp vui thì cũng được nhưng dốt nát mà muốn làm loạn và bố láo với cả Bác ĐT Võ Nguyên Giáp thì rất đáng bị thiên hạ chửi. Có bài vì muốn chê bai quê hương đất nước mình Thái Bá Tân đã quỳ gối tung hô cha con ông PARK CHUNG HEE đã đưa Hàn Quốc:
“Là cường quốc thế giới
Về dân chủ, tự do
Về phát triển kinh tế,
Và xuất khẩu ô-tô…”
*
…………………………….
Nửa thế kỷ sau đó
Con ông, Park Geun-hye,
Trở thành nữ tổng thống
Nước Hàn Quốc thần kỳ.
Nhờ gương cha quyết liệt,
Đất nước bà phồn vinh.
Quan và dân đồng thuận,
Sống có nghĩa, có tình.
Ta mà làm được thế
Thì quả thật rất hay.
Nhưng tiếc là không được.
Vì sao? Vì thế này:”
Nhưng rồi thực tế nữ thần tượng của Thái Bá Tân đã bị phế truất vào ngày 10 tháng 3 năm 2017 và bị bắt giam tại Uiwang theo lệnh của các công tố viên vào ngày 31 tháng 3 năm 2017. Như vậy chính Thái Bá Tân đã tự vả vào cái mồm xu nịnh láo lếu của mình.
 Có điều buồn cười ở chỗ cũng như tất cả bọn trở cờ, chiêu hồi như Bùi Tín, Dương Thu Hương, Phạm Đình Trọng, v.v… không chống phá đất nước triệt để, chỉ cần viết một chút sự thật tốt đẹp về đất nước là sẽ bị bọn chống phá chửi te tua. Có kẻ đã dùng chính “võ” của Thái Bá Tân làm thơ chửi như thế này:
“Bá Tân ơi Bá Tân
Chẳng lẻ tôi đã lầm?
Thì ra cái hai mặt .
Không của riêng người nào”
***
Thái Bá Tân là một người như vậy mà “thầy Phúc Anh” viết như thế này: “Về nhân vật Tân Thái Bá, em gọi người đó là thầy vì kiến thức và lòng từ của người đó”.
Vì thế Phạm Đình Tân Tân đã chia sẻ rất nhiều thơ của Thái Bá Tân. Thật e ngại với chuẩn mực “kiến thức” và “lòng từ” như thế thì “thầy Phúc Anh” sẽ hướng đạo cho các “con”, “quân của cô Hoà”, những người mà tôi rất biết, có những người rất thân thiết, đi về đâu?
 “Cao tay” ở chỗ khi tôi đăng mấy bài “đánh vỗ mặt” nhưng Phạm Đình Tân Tân, tức “thầy Phúc Anh”, vẫn vào “like” để chứng tỏ cho các “con” mê mụ biết mình là “bề trên”, không chấp, vị tha. Tôi biết đó chỉ là động tác giả vì đã tranh luận nhiều tôi thấy không có ai mà nhận ra cái sai để thay đổi quan điểm của mình cả, có chăng chỉ có tôi mà thôi. Vì để nhận ra cái sai người ta không chỉ không cố chấp mà còn phải thông thái. Như khi nhà nước in cuốn “Bóng tối của ánh sáng” của tôi người ta phải xét duyệt gắt gao, một lần ra Hà Nội, người duyệt sau cùng, một tiến sĩ triết học từng đoạt giải cuộc thi toán miền Bắc, nói: “Tôi có thể tự tin nói tôi là một vài người đọc hiểu hết cuốn sách của anh”. Tuy khen vậy nhưng vẫn góp ý: “Anh viết thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý là chưa chính xác, thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý mới đúng!” Tôi giật mình nghĩ “Chết mẹ, viết như mình giết người, cướp của là chân lý, đĩ điếm là chân lý…” Tôi phải cảm ơn người này và đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất sau mấy chục năm viết lách có một người góp ý đúng và tôi đã buộc phải nghe theo.
Cũng như Phạm Đình Tân Tân, có ông Phùng Truyền tôi đã chỉ cho là không biết một chút gì về vật lý nhưng lại luôn tham vọng chuyện dời non lấp biển, đã phản ứng dữ nhưng cũng không giận và cũng vẫn vào “like”, thỉnh thoảng còn chia sẻ bài của tôi nữa.
Tôi muốn nói chân tình với cả Phạm Đình Tân Tân và Phùng Truyền là tao không cần chúng mày “like”, cái tao muốn là chúng mày hiểu và thay đổi để đừng làm việc xấu, gây nguy hiểm đến người khác, đừng tốn công làm những việc vô ích. Chỉ vậy thôi!
            TPHCM
21-10-2017
ĐÔNG LA



Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

CHẾ LAN VIÊN TRONG HỒI QUANG CỦA KÝ ỨC

                Trước khi chỉ ra thần tượng của « thầy Phúc Anh » -Thái Bá Tân- bất tài, ngu dốt, láo xược và phản động như thế nào, tôi đăng lại bài tôi viết về Nhà thơ lớn Chế Lan Viên cũng là viết về một mối quan hệ định mệnh của cuộc đời tôi. Bài đã in báo và 2 lần in sách.
         TPHCM
         19-10-2017
         ĐÔNG LA
CHẾ LAN VIÊN
TRONG HỒI QUANG CỦA KÝ ỨC


         Đây là bài tôi viết sau cái chết của nhà thơ lớn Chế Lan Viên 8 năm, người mà định mệnh đã ưu ái cho tôi được gần cận ông mấy năm cuối đời, chứng kiến toàn bộ “cuộc ra đi” về cõi vĩnh hằng của ông. Bài đã được in trong cuốn “Biên độ của trí tưởng tượng”. Gần đây, cập nhật những thông tin mới về ông, tôi có viết thêm ít dòng, những mong góp phần làm sáng rõ thêm chút nào đó về một tài năng và nhân cách lớn của nền văn chương hiện đại Việt Nam – Đông La.

(Vài bút tích tặng sách của Chế Lan Viên)

         Vào một buổi sáng cách đây tám năm, khi đến thăm nhà thơ Chế Lan Viên, tôi thấy ông mừng như chưa bao giờ mừng như thế. Ông nói với tôi:
- Hú vía, cứ tưởng bị bệnh gì nặng lắm nào ngờ bác sĩ ở Bệnh viện Thống Nhất lại hỏi mình đã tẩy giun chưa?
Ông cười thật khoái chí. Ông mới đi khám bệnh hôm trước. Nhưng rồi cả ông, cả gia đình, và tôi cũng không ngờ rằng, đó chính là niềm vui trọn vẹn cuối cùng của ông ở cõi đời này. Bởi sau đó sẽ lại là bệnh viện, là tràn ngập thất vọng xen lẫn những hy vọng mong manh; sẽ là mổ xẻ, là di căn; rồi cuối cùng ông đã đi về “xứ không mầu”, về “Bầu trời khác cũng đầy hoa”…
Ông không bị bệnh đơn giản như thế. Sau đó vài ngày, tôi đã cầm thư tay của ông đến văn phòng Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh xin giấy giới thiệu để ông đi an dưỡng tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi có Bác sĩ Dinh, chồng nhà thơ Anh Thơ, bạn ông. Lúc tôi đi, ông còn nói với theo: “Ông nhớ nói nó ghi tôi chuyên viên 8 nhé”. Và rồi chính ở Bệnh viện Chợ Rẫy, người ta đã phát hiện ra khối u ác trong phổi ông.
Thoắt cái đã tám năm trôi qua rồi. Thân thể ông đã biến thành một bọc tro than rải xuống sông Sài Gòn và một bình tro xương đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm. Nhưng tinh thần ông, tư tưởng ông, thơ ca ông thì vẫn vẹn nguyên, vẫn sống động như thuở nào.
Như một quà tặng của số mệnh, với khoảng cách 35 năm tuổi và đỉnh cao của một tên tuổi lừng danh, tôi đâu có ngờ, sau khi đọc chùm thơ mà tôi dự thi ở cuộc thi thơ của Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh năm 1986, ông đã dành cho tôi một tình cảm đặc biệt. Hôm đó, tôi đã nhờ cô Thường đưa thơ của tôi cho ông coi. Bà nói với ông:
         -Anh Hoan (tên ông) ơi, cậu này cũng có làm thơ, cậu ấy có chùm dự thi đây này, anh coi giúp xem.
         - Ông (ông thường gọi tôi vậy, còn tôi gọi ông là “chú” xưng “cháu”) cũng có làm thơ à? - Rồi sau khi đọc xong, ông reo lên - Ô, ông làm được đấy, ông sẽ được giải đấy!
         Tôi ngạc nhiên đến độ không còn biết đến vui mừng nữa vì không hiểu “được giải” nghĩa là thế nào? Sao ông lại cho giải ngay tại nhà ông? Rồi ông tiếp: “Tôi có thể cho ông giải cao nhất cũng được, nhưng ông chưa có lực khéo người ta giết ông đấy! Thôi, tôi cho ông đứng đầu giải ba!”. Ông nói xong, tôi còn ngạc nhiên hơn khi thấy ông vào trong buồng, bê ra một chồng vở khổ lớn ra khoe với tôi một cách hồn nhiên như khoe một người bạn tâm giao vậy:
- Ông biết tôi làm thơ như thế nào không? Khi nào nghĩ ra được một câu hay tôi chép vào quyển đầu này, khi nào có tứ sẽ phác thảo vào cuốn thứ hai, tôi đánh mục lục đàng hoàng để hoàn thiện dần.
Bấy giờ Vàng Anh còn nhỏ có thể không để ý đến “chuyện riêng” của tôi với cha cô; còn cô Thường có thể cô không nhớ, mà cô nhớ làm gì chuyện một người làm thơ trẻ đến gặp ông, vì người ta từng đến quá đông. Nhưng với tôi thì ngược lại, một người tập tọe làm thơ lại được chính Chế Lan Viên khen, còn cho giải nữa, thì không thể là chuyện bình thường được. Tuy nhiên, đang là cán bộ nghiên cứu của một Viện Dược, tôi cũng không đến nỗi quá phởn chí bỏ hết các thứ để lao vào thơ ca, không dễ ngây ngô bỏ mồi bắt bóng. Nhưng quả thực tôi vẫn muốn được Chế Lan Viên xác nhận lại khả năng của mình một lần nữa để tôi còn “liệu” cho tương lai của mình, nhưng tôi ngại không dám hỏi. Phải đến lần ông nói với tôi:
- Ông nên có một chỗ sinh hoạt. Để tôi bảo Nguyễn Quang Sáng ghi tên vào Hội thành phố trước đã, - ngẫm nghĩ một lát ông tiếp - Thôi, bây giờ ông lên văn phòng xin một bộ hồ sơ rồi nói với anh Chim Trắng là tôi nhờ anh ấy cùng tôi đứng tên giới thiệu ông vào Hội.
Tôi quá ngạc nhiên và quá xúc động, quả thực đời tôi chưa có một người dưng nào lại quan tâm tới mình như thế, lúc ấy tôi cảm thấy ông như cha của mình vậy và nhanh trí thừa dịp hỏi luôn:
- Thế… cháu làm thơ có được không chú?
         Ông cáu, nhưng sự phật ý này của ông đã mang lại đời tôi một trong những niềm vui lớn nhất, ông trả lời tôi hơi gắt:
- Ông tưởng tôi cho ông giải vì tình cảm riêng hở! Ông nên nhớ, trước ông đến nhà tôi đã có hàng vạn người rồi, nếu vì tình cảm mà cho giải thì bao nhiêu cho đủ?!
Từ đó, sau chính câu nói này của ông, tôi không còn băn khoăn đến điều mình có khả năng hay không nữa và xác định một thái độ nghiêm túc đối với việc viết lách, và noi gương ông, trước khi đặt bút viết, tôi phải tự trả lời được câu hỏi: “tại sao lại viết thế?”, nên đã tiếp cận sâu vào lý luận. Tôi có tham vọng muốn đến được tận cùng cái nguyên lý mà từ đó người ta đã xây nên những quan điểm về cái hay, cái đẹp, cái giá trị của tác phẩm nghệ thuật.
Tôi đã mở được cánh cửa đến với “Không gian Chế Lan Viên” là như thế. Từ đó tôi đã thành người thân của gia đình, được nghe ông nói nhiều về thơ, về những điều rất tinh tế, rất cao sâu. Ông không răn dạy mà thường chỉ bộc bạch, giãi bầy những suy tư trăn trở. Với những thành tựu đã đạt được, người khác chắc không ai đắn đo như ông: “Tôi đi giữa nét vằn và dáng ngựa/ Phối hợp hai cực hai đằng dễ đẻ ra văn”; ông cũng từng viết mà tôi chỉ nhớ ý: “Chỗ này sâu ư?/ Không phải, chỉ vì nước đục!/ Chỗ này nông ư?/ Không phải, vì nước trong nên ta nhìn thấy đáy./ Cái sâu cạn trong thơ là thế đấy!”. Ông cũng nói rất cụ thể với tôi:
- Thế nào là thơ hay? Thơ hay bắt đầu từ chữ hay, rồi đến câu hay, đoạn hay, toàn bài hay. Nhưng thế nào là hay? Cái hay là sự sáng tạo ra cái mới lạ, cái độc đáo, là ở độ khó để làm ra chúng. Nhưng tất cả những cái đó lại phải có ý nghĩa, có giá trị.
         Rồi ông đọc hai câu ca dao: “Tay trồng cây cửu lý hương/ Ba năm hai lá người thương dịt đầu”. Ông bảo phải trồng đến ba năm mới được hai lá để dành cho người thương quả là kỳ công thật, đúng là yêu nhau thật!
         Giờ ngồi nhớ lại mối quan hệ với một nhà thơ lớn mà cứ như nhớ về một giấc mơ, một câu chuyện cổ tích. Sau khi đề nghị trao giải cho tôi, giới thiệu tôi vào Hội, ông còn đến báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh gởi gắm tôi, rồi còn xin cho tôi đi làm ở một tờ báo… Quả thật, ông đã quan tâm đến tôi như sự quan tâm của một người cha.
         Hồi nhỏ, tôi vốn học khá những môn tự nhiên, luôn có ước mơ trở thành một nhà phát minh, nên thần tượng không phải là những nhà văn nhà thơ mà là những nhà bác học trán dồ và râu dài. Tôi không một mảy may quan tâm đến văn chương. Thế mà không hiểu sao tôi lại nhớ thơ Chế Lan Viên. Năm 1974, năm đầu vào chiến trường, một đêm dưới mái lá trung quân, tòng teng trên cánh võng, trong tiếng rì rầm của sóng sông Đồng Nai vỗ nhẹ vào bờ đá, tôi đã hứng chí đọc bài “Người đi tìm hình của nước” của ông, mà tôi được học trong sách giáo khoa, cho đồng đội nghe với một sự đắc ý về sự hiểu biết của mình.
         Nhà thơ Anh Thơ một lần đã tặng tôi một tuyển tập thơ, trong đó tôi lại rất thích những bài: Con cò; Tình ca ban mai; Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể của Chế Lan Viên. Thế là lần thứ hai, từ sự hồn nhiên, tôi đã yêu mến thơ ông. Riêng bài Con cò, khi quen ông, tôi còn dám bình trước ông nữa, không sợ gì chuyện múa rìu qua mắt thợ cả:
         - Cháu rất thích hai câu: “Con ngủ yên thì cò cũng ngủ/ Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi”. Lấy cánh cò thực đắp cho đứa bé đã là lạ rồi. Còn cánh cò ở đây lại ở tận trong lời ru cơ!
         Nghe xong, ông có vẻ xúc động, ông bảo:
         - Con Thắm đấy, con Thắm đấy!
         Với bài Con cò, ông đã thể hiện được một phần quan trọng trong đời sống tình cảm của mình. Bên cạnh những mối quan tâm lớn lao đến thi ca, đến mọi mặt cuộc sống, ông luôn có đam mê chăm sóc con cái bằng những việc li ti thường nhật. Còn hai bài: Tình ca ban mai Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, tôi thấy là hai bài điển hình cho hai phong cách ngôn ngữ của thơ ông: ngôn ngữ có yếu tố tượng trưng và ngôn ngữ có yếu tố siêu thực.
         Lối tư duy bằng hình tượng, diễn tả ý tưởng bằng những hình ảnh tượng trưng là một thao tác được ông dùng thường xuyên. Khác với nhiều tác giả khác làm thơ tình, thơ lãng mạn, với sự giãi bầy, thổ lộ, kể lể, tán dụng… quá chi li cụ thể, gây cho người đọc thông minh một sự ngán do cái rõ ràng thừa mứa. Tình ca ban mai không thế. Chế Lan Viên đã để chừa một khoảng im lặng cho độc giả tự xúc cảm. Bài thơ đã được thiết kế một bộ khung thơ lãng mạn, các yếu tố tượng trưng được đính lên đó để thể hiện những ý tưởng, cảm xúc. Như vậy nó không lãnh đạm như tượng trưng của chủ nghĩa Tượng trưng, người đọc phải xúc cảm thông qua những ám thị trước những hình ảnh, mà tình cảm đã chan hòa ở tất cả các dòng thơ. Thế nhưng ý tứ cụ thể thế nào thì ông diễn tả theo đúng như Mallarmé, một trong những ông tổ của thơ Tượng trưng, từng nói: “Từng bước gọi ra một vật thể, và như thế phơi bầy một tình cảm”. Tất cả những sự chia ly, gặp gỡ, nỗi buồn, niềm vui… đều được ông thể hiện bằng những hình ảnh chiều đi, chim vườn, mai về, rừng non, trời trưa, nắng sáng
                           Em đi như chiều đi
                           Gọi chim vườn bay hết
                           Em về tựa mai về
                           Rừng non xanh lộc biếc…
Ta thử phân tích một câu đầu. Ở đây sự xa cách, nỗi buồn đã được thể hiện bằng hình ảnh chiều đi. Chiều đi là hoàng hôn về, rồi đêm xuống, tắt nắng, vắng lặng, rồi buồn, rồi cô đơn… Như vậy, từ hình ảnh gốc, nếu sử dụng đắc địa, phù hợp, nó sẽ có khả năng gợi mở, tạo ra một chuỗi những liên tưởng, giống như sự bắn phá của hạt nơtron sơ cấp vào một hạt nhân, sẽ tạo ra vô vàn hạt thứ cấp và các mảnh vỡ, dẫn đến hình thành một năng lượng khổng lồ. Có lẽ, sự thưởng thức, rung động trước một tác phẩm thi ca cũng từa tựa như thế.
         Về yếu tố siêu thực trong thơ Chế Lan Viên, còn rất ít sự phân tích. Việc nhận dạng tính siêu thực trong hội họa, trong văn chương cũng đã nói nhiều, nhưng còn mù mờ và mâu thuẫn nhau, kể cả những nhân vật có tiếng tăm. Người thì cho siêu thực là cao siêu, người thì cho là mờ ảo… Thực ra siêu thực là một quan niệm sáng tác, có cơ sở lý luận riêng, đã trở thành một chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong Hội họa và Thơ ca. Riêng Chế Lan Viên đã sớm viết về nó. Ông từng viết: “Siêu thực là gì: là romantisme jusq’au bout (lãng mạn đến tột cùng)… Người Trung Quốc gọi là kỳ, tânmới thì chưa đủ, sau tân còn phải kỳ (lạ) nữa…”. Khi bàn về cái lạ của ngôn ngữ thơ ca, ông từng trích những câu: “Mái nhà dài như một tiếng chiêng” (Trường ca Đam San); rồi “Anh về mua lụa bọc trời” (Ca dao);…
         Như vậy, tính siêu thực của ngôn ngữ thơ ca chính là tính bất thường khi thể hiện những sự vật, hiện tượng bình thường, với một sự tưởng tượng, liên tưởng cao nhất, để thấy một hiện thực khác trong tâm tưởng, nó phong phú, kỳ lạ, ấn tượng hơn với những ví von, ghán ghép đầy bất ngờ, tạo ra những chiều kích, hình dạng và những tính chất khác mà bản thân hiện thực tĩnh không có.
         Chế Lan Viên không chấp nhận và không làm thơ siêu thực thuần túy, ông không chấp nhận quan điểm thơ “đứng ngoài mọi thiên kiến thẩm mỹ hay đạo đức” của Chủ nghĩa Siêu thực; không chấp nhận thơ ca quá xa lạ với bản năng thích cái hay, cái đẹp hồn nhiên của con người. Thơ ông không có những hình ảnh siêu thực kỳ dị theo đúng tính chất ngẫu nhiên, sự gán ghép kỳ lạ của nó: “Đẹp như một cuộc gặp tình cờ của một cái máy may với một cây dù trên bàn mổ” (Lautréamont); hay như Breton mô tả hình dáng người đàn bà vừa như đồng hồ cát lại như con rái cá: “Vợ tôi… có vóc hình của đồng hồ cát… có vóc hình con rái cá trong hàm răng con hổ” (Tự do kết hợp -  Quỳnh Thư Hiên dịch). Ông chỉ chấp nhận tính kỳ lạ trong thơ mà hình như ông là người đầu tiên gọi là “yếu tố siêu thực” bởi ít nhiều nó có nét tương đồng. Ông coi nó như một chuyện tất nhiên trong sáng tạo, như một phần rượu trong một bữa cơm, là cách để “tăng năng suất ý”. Ông viết bài Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể:
                  Cái rét đầu mùa anh rét xa em
                  Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa
                  Một đắp cho em ở vùng sóng bể
                  Một đắp cho mình ở phía không em.
         Đây là bài thơ đã gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. Chính tính bất thường của ngôn ngữ đã gây ra cái ấn tượng ấy. Chỉ một tấm chăn thôi mà đã đắp cho mình rồi còn đắp được cho người yêu tận nơi chân trời góc bể nữa. Cũng lạ như thế, hai câu trong bài Con cò mà tôi đã nói:
                  Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
                  Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
         Khi viết về Côn Sơn, ông đã thấy mùi hoa đại thơm từ tận thời của Nguyễn Trãi:
                  Côn Sơn thơm mùi hoa đại
                  Thơm từ thời Nguyễn Trãi đến thời ta

         Và khi đến với thiên nhiên, ông cũng nhận ra được một tính chất khác, một khả năng khác của nó:
                  Mỗi lần đau anh lại đến Tây Hồ
                  Chữa lành anh là bông súng tím
         Trong tập Điêu tàn mà ông viết từ thuở thiếu thời, tôi không chú ý lắm đến những đầu lâu, xương cốt, tháp Chàm lở lói… bởi chúng là những cái lạ lồ lộ, ai cũng thấy. Tôi lại chú ý đến những câu ông có cách diễn đạt lạ nhiều hơn:
                  Ta cùng nàng nhìn nhau không tiếng nói
                  Sợ lời than lay đổ cả đêm thâu
         Một động tác (lời than) lại có thể lay đổ được cả thời gian (đêm thâu). Lạ lùng biết bao nhưng cũng có lý biết bao! Khi người ta quá yêu nhau, đòi hỏi một sự hoàn thiện; khi trái tim quá nhạy cảm thì chỉ cần một dấu vết của sự không hoàn thiện thôi cũng có thể dẫn đến sự đổ vỡ, một lời than có thể làm hỏng mất cả cái đêm yêu đương huyền diệu kia. Đọc những câu thơ của ông, ta thấy được cái im lặng vô cùng của không gian, nhưng lại là cái im lặng trước một cơn bão, trước cái khoảnh khắc mà những dòng nham thạch của ngọn núi lửa đang lịm ngủ, chuẩn bị trào sôi!
Thế đó, tôi đã yêu thơ Chế Lan Viên từ khi chưa có mảy may nào bận tâm về văn chương, chưa từng biết mặt ông. Có lẽ vì người ta thường đồng cảm với những gì gần gũi với mình. Sau này làm thơ rồi khi xem kỹ thơ mình, tôi ngạc nhiên thấy mình cũng có khá nhiều câu thơ ngồ ngộ, ví dụ như: “Anh xa em gần nửa vòng trái đất/ Nỗi nhớ cũng cong theo dáng Địa cầu”; rồi: “Con lại đến với ngôi trường sơ tán/ bốn bờ tường như bốn ụ đất lom khom/ Cô vá lại cho con cái ước mơ rách nát”… Khi cầm bút viết phê bình, tôi nhận ra những câu thơ lạ đó không phải là độc quyền của riêng ai mà chúng chính là sản phẩm của trí tưởng tượng, tức “hồn thơ” của mỗi thi sĩ. Chính trí tưởng tượng của nhà thơ đã tạo ra sự lạ hóa cách thức biểu đạt, từ đó mới tạo ra được những sắc thái biểu cảm mới, Lưu Quang Vũ tả mái tóc người yêu: “Tóc em dài như một ngày mỏi mệt”; và Phùng Khắc Bắc: “Con số 8 như vòng tròn vặn mình/ Giống như người đang quay ngoái lại”…
Từ khi được quen thân với Chế Lan Viên, tôi đọc ông kỹ hơn, những tác phẩm chính tay ông đề tặng, gia đình ông đề tặng, và tôi cũng tự đi tìm kiếm, tôi đã đồng cảm với ông rất nhiều. Tôi nhớ một lần ông nói: “Tôi muốn làm được loại thơ có thể đọc được từ trên xuống, cũng có thể đọc được từ dưới lên”. Tôi nhận thấy thơ ông gần như đã bao trùm hết cả. Từ những ngõ ngách, tầng cao, tầng thấp của cuộc sống tinh thần con người, đến những mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, giữa con người với tự nhiên. Và ông quan tâm nhiều đến sứ mệnh của thơ; ông làm nhiều thơ về thơ, muốn khám phá cái cơ sở triết lý hình thành nên thơ ca và sự tồn tại của nó theo thời gian.
Cùng là những người yêu thơ ông, nhưng người ta yêu cũng khác nhau, người thích bài này, người thích bài kia; người đánh giá giai đoạn này cao hơn giai đoạn kia… Còn tôi, giống như số đông, tôi thích tập Ánh sáng và phù sa. Có giai đoạn thơ ông nghiêng về tính chính luận, tính thời sự; giai đoạn cuối (phần di cảo) thơ ông nghiêng nhiều hơn về tính suy tư, về cái tôi. Ánh sáng và Phù sa đã hòa quyện tất cả những gì ông có. Nó có tất cả vẻ đẹp của thơ. Ông đã viết nên nó ở giai đoạn chín nhất, sung sức nhất của khả năng tư duy (khi ông 35- 40 tuổi). Ở đấy sự thông minh đã hòa tan vào tình cảm; mỗi trang thơ đều thấm đẫm cảnh sắc của thiên nhiên nguyên thủy, có hổn hển hơi thở ấm áp và nhịp đập rạo rực của cuộc sống. Ở đó có những bài thơ rất nổi tiếng, là những bài thơ tiêu biểu cho cả một giai đoạn văn chương: Người đi tìm hình của nước; Tiếng hát con tàu; Giữa tết trồng cây; Tình ca ban mai… Có những câu thơ được thuộc nằm lòng trong các thế hệ độc giả:
         Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
         Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương
         Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
         Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

                  Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
                  Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
                  Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
                  Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
                                    (Tiếng hát con tàu)
Nếu ai đã từng xa Tổ quốc, thấy mình thành dân thiểu số ở xứ người, khi cái tôi bị nhấn chìm trong sự xa lạ, sẽ rất thấm thía câu thơ của ông:
                  Tổ quốc thân yêu như quả tim thầm
                  Ở giữa lòng ta nào ta có biết
                  Trong xa cách bỗng à ơi giọng Việt
                  Ru lòng tôi qua ngàn dặm quê xuân
                                             (Ý nghĩ mùa xuân)
Còn đây là tình cảm của ông đối với Đảng - Người đã thay đổi toàn bộ cuộc đời ông; từ một chú bé chỉ thấy những điêu tàn đổ vỡ, đến mùa xuân cũng chẳng thiết: “Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu/ Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau” (Xuân), lại trở thành một chiến sĩ cách mạng, đầm mình trong gian khổ, rồi làm thơ yêu đến rưng rưng từng gốc cây, ngọn cỏ:
           Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác
  Những vật vô tri cũng làm rưng rưng nước mắt            
 Đá sỏi, cây cằn sao bỗng thấy thiêng liêng
                          (Kết nạp Đảng trên quê mẹ)
Còn đây là những câu thơ tả cảnh tuyệt đẹp của ông:
Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc
Nơi bốn mùa đã hóa thành thu
         Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ
                  Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài                                          (Cành phong lan bể)
Và đây là những câu thơ ông viết về tình yêu cuộc sống:
 Cởi giày ra cho chân anh giẫm lên cỏ xanh non
Có phải đất này từ lúc nhân dân tôi làm chủ
         Cái sống ngọt ngào trong từng ngọn cỏ
         Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn
                                               (Tàu đến)
Quả thực, nếu ai chưa trải qua đắng cay, sẽ khó thấy hết ý nghĩa của ngọt bùi, Chế Lan Viên từng phải vượt qua những thách đố lớn của cuộc sống, những con đèo hiểm trở chắn ngang đường đời ông. Hiểu được cuộc đời lắm gian truân của ông, ta mới thấy tình yêu thơ ca của ông lớn biết bao nhiêu! Mới thấy hết cái nghị lực phi thường ở thi sĩ ấy:
Ta lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành
                                                        đai trắng
Lấn bệnh tật mà đi, máu đỏ lấn da xanh
Rồi:
Tôi nhặt từng hạt vàng sức khỏe rơi đi
Như mẹ già nhặt hạt thóc vàng đã đổ
         Nhặt từng hạt máu mặt trời vứt bỏ
         Từng giọt thi tài rơi vãi dưới chân đi
Có một phần rất quan trọng làm nên tính cách Chế Lan Viên mà hồi đó trước ông, vì ở một thế hệ khác, tôi giống như một đứa con ngoan ít khi để ý những chuyện rắc rối của bậc cha mẹ, ngay cả khi ông dặn tôi câu sau mà tôi cũng không chú ý lắm: “Đi đâu ông đừng nói thân với tôi nhá, người ta sẽ ghét ông lắm đó!”. Khi biết tôi quen Chế Lan Viên, một số người từng biết ông giai đoạn trước bảo, ngày xưa còn quyền lực ông “ác” lắm; ông có lối đối đáp truy sát không cho người đối thoại “ngóc đầu dậy” được. Như chuyện một nhà thơ từng bị ông loại thơ thế nào ấy nói: “Anh cậy có quyền dìm tôi”; Chế Lan Viên trả lời ngay: “Anh có nổi bao giờ đâu mà tôi phải dìm!”. Tôi cũng được nghe một số người kể chuyện ông Phan Quang vào Hội Nhà văn; Ban Chấp hành họp xem có nên duyệt không, đợi ý Chế Lan Viên, nhưng ông còn bận đi đái, đái xong vào ông bảo: “Thằng Thép Mới còn được ở Ban Chấp Hành xét người ta thì thằng Phan Quang làm gì không được vào Hội!”. Chuyện này cũng có trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, đoạn viết về Nguyễn Khải; theo Nguyễn Khải: “Chế Lan Viên một thời dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm… Họp Ban chấp hành ý Chế Lan Viên là quyết định… Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên… Ai cũng gọi là thằng tuốt, thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài. Riêng chuyện gọi “thằng” này thì quả thực khi có ý giới thiệu tôi vào Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, ông bảo: “Để tôi nói thằng Nguyễn Quang Sáng nó ghi tên vào Hội”, nhưng khi kể lại tôi đã sửa cho “mềm” đi. Cũng theo Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, Tô Hoài gọi Chế Lan Viên là “thằng nặc nô của Đảng”…
Tôi cho rằng những điều trên đây có thể có thật và đúng về Chế Lan Viên, ở gần ông, cũng có lần tôi chứng kiến ông cáu với người thân. Có điều, tất cả những “nết” vừa kể trên đây, tôi không cho là ghê ghớm, chúng không phải là những cái xấu, cái ác thực sự như cướp của, giết người, gian manh, đểu cáng, vu oan giá họa… mà chỉ là những cái tật thường tình của mỗi con người. Loài người từ trước tới nay có được mấy người toàn thiện, toàn mỹ? Trong một tính cách mãnh liệt của một tài năng lớn, cái “tài” thường kèm theo cái “tật”. Còn những tham vọng, những đấu đá, tranh đoạt của ông, nếu có cũng là sản phẩm tất yếu của một thời bao cấp, người ta chỉ có một con đuờng phấn đấu duy nhất là làm cán bộ, có ai nằm ngoài được cái vòng xoáy ấy đâu. Trong cuộc tranh đoạt ấy, tất có người thành công, kẻ thất bại; và người thành công sẽ hể hả, còn người thất bại sẽ cay cú. Có nhiều sự cay cú, bản chất là tầm thường, nhưng sau này lại được sơn phết một cách có chủ ý một lớp sơn sang trọng là: đấu tranh cho dân chủ và tiến bộ. Còn Chế Lan Viên, có thể nói ông thuộc phe thành công, nhưng tôi thấy với tài năng của ông, ông hoàn toàn xứng đáng có được những vị trí đã có, thậm chí còn phải cao hơn nhiều nữa, vì thực tế sau ông có những người tài còn kém ông xa, đã leo lên được những chức cao hơn ông rất nhiều!
Cuộc đời ai cũng có mặt tốt mặt xấu, Chế Lan Viên cũng vậy, nhưng những thành tựu ông đạt được trong văn chương đủ sức trùm lấp lên những điều vặt vãnh. Thật tiếc là ở ta đã xuất hiện một số cuốn hồi ký viết theo phương pháp “ngồi lê đôi mách”, mà chủ nhân của những câu chuyện chỉ dám nói nhỏ với những người “cùng giuộc”, chứ có cho “ăn kẹo” cũng không dám viết công khai. Vậy mà đã có những người mang danh nhà văn, giáo sư văn học này nọ, chỉ tách riêng những nét không hay dựng lên chân dung những nhân vật tên tuổi, trong đó có Chế Lan Viên. Việc lấy toàn những chuyện người ta tếu táo với nhau lúc trà dư tửu hậu, những lời nhận xét chê bai nhau đầy cảm tính ích kỷ, đầy thành kiến méo mó, đầy đố kỵ nhỏ nhen… thành tác phẩm để đời, thật là một hành động phi khoa học và vô văn hóa!
Còn được gần Chế Lan Viên, tôi thực sự ngạc nhiên khi nhận thấy ở ông có một tấm lòng nhân hậu đến hồn nhiên. Ông bảo vì quý Yến Lan nên ông đã đặt bút danh mình có chữ Lan. Là một nhà thơ lớn nhưng ông không khụng khiệng kiểu cách mà giản dị như những người bình thường, ông làm tất cả các việc vặt, từ đun nước tắm cho con, tưới cây, cho gà, cho lợn ăn, đào ao thả cá… Đặc biệt ông rất chung thủy, yêu thương và lo cho sự nghiệp của bạn bè, ông lo viết tựa giới thiệu thơ cho người này người nọ (hồi tôi gặp, ông viết cho Hàn Mặc Tử, Hoàng Trung Thông và Trần Nhật Thu…). Ông lo in tuyển tập cho người bạn thơ ông rất quý là Hàn Mặc Tử, chính tôi đã chở ông bằng xe đạp đến nhà thi sĩ Mộng Tuyết ở đường Nguyễn Trọng Tuyển, Tân Bình để chép tập Gái quê đưa vào tuyển tập. Hôm ấy ngồi chép, tôi rất cảm động khi nhìn Mộng Tuyết và Chế Lan Viên ngồi uống trà đàm đạo, để được vậy, tình bạn thơ của họ đã vượt qua cả một khoảng thời gian mấy chục năm và qua cả một cuộc chiến đầy máu lửa. Ông cũng là người rất trân trọng người viết trẻ, những cái mới. Hồi ấy ông quý tôi và anh Nguyễn Thái Sơn về thơ, ông quý Nhật Chiêu dịch thơ Hai-cu Nhật, quý người bạn cũ là Khổng Đức dịch Từ Tống và những người khác mà tôi không biết.
 Một điều nữa về Chế Lan Viên cũng cần phải nói đến, đó là gần đây những người chống chế độ đã nhân việc Chế Lan Viên làm mấy bài: Bánh vẽ; Trừ đi; Ai? Tôi? đã cho ông là sám hối, quay lại chống Đảng, chống Nhà nước. Thơ ca vốn đa nghĩa, nhất là thơ của một trí tuệ cỡ Chế Lan Viên, lại viết bằng ngôn ngữ tượng trưng, không nói cụ thể điều gì mà chỉ gợi. Nên việc lái ý thơ Chế Lan Viên thành chống đối không khó. Có điều, việc làm trên đã không chỉ hạ thấp nhân cách mà còn hạ thấp cả văn chương Chế Lan Viên. Bởi một thi sĩ lớn như ông nói riêng và những nhà sáng tác chân chính nói chung, người ta viết vì một sứ mệnh lớn lao mang tính nhân bản, nhân văn và vì sự tiến bộ của loài người nói chung, chứ đâu có lại biến tác phẩm của mình thành thứ công cụ xỏ xiên tầm thường! Có kẻ, ở ngay “phe ta”, còn định đôn cô con gái cưng của ông, nhà văn Vàng Anh, thành “ngọn cờ đổi mới”, chống lại chính ông nữa. Riêng tôi, đọc những bài thơ “chống đối” trên, lại thấy yêu mến ông trọn vẹn hơn, thấy ông đúng là một thi sĩ chân chính, đã không viết một chiều, không tô son trát phấn cho những sai trái, những mục ruỗng mà cuộc sống của con người, vì không phải là Thiên Đường, nên không thể không có. Ở đó vẫn còn có những lời nói chưa đi đôi với việc làm, có những tư duy mà ngôn từ chính trị đã tự phê là "duy ý chí " (Bánh vẽ) ; Ở đó vẫn còn có đây đó những người lính từng quên mình xông pha trong trận mạc trở về sau chiến tranh chưa được xã hội quan tâm đúng mức (Ai? Tôi?) ; và như một lời bộc bạch, ông đã tâm sự rằng có một thời, vì cái chung lớn lao hơn cả văn chương là sự thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến, thế hệ ông chưa thể viết được một cách trọn vẹn về cuộc sống (Trừ đi).
Nói chung về thơ Chế Lan Viên, mỗi giai đoạn ông đều có những bài đỉnh điểm. Ngoài những bài đã nhắc trong Ánh sáng và phù sa còn có Sao chiến thắng; Con cò; Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?; Ngày vĩ đại; Thần chiến thắng… và giai đoạn sau ông có Từ thế chi ca.
Nói đến cái chết của ông, trong tôi lại hiện về biết bao tình cảm. Những lời nói, những hình ảnh của ông trở thành những kỷ niệm không bao giờ quên. Ông thường bảo tôi đi dự những buổi ông nói chuyện, khi ở Trường Tổng hợp, khi ở Phát hành sách… Trong đêm thơ của ông ở nhà Văn hóa Phú Nhuận, khi Thúy Vinh ngâm xong bài Con cò, mọi người vỗ tay như sấm, ông nói nhỏ với tôi: “Thì ra mấy người nổi tiếng lại ngâm không hay bằng cô này”. Trong đám cưới Thắm, con gái ông, ông mời không nhiều, vậy mà ông cũng mời vợ chồng tôi; còn tôi thì coi như người nhà có nhiệm vụ khuân bia hơi tngoài đường vào nơi làm đám cưới ở Thư viện Thành phố Hồ Chí Minh. Một lần chở nhà thơ Anh Thơ lên thăm ông, thấy ông đang cởi trần bắt cá ở cái ao nhỏ sắp cạn trong vườn. Ông chỉ bắt được những con đã ngắc ngoải hoặc đã chết. Tôi liền xuống bắt cá cùng ông. Hai chú cháu một hồi bắt sạch cả ao cá…
Thế rồi sau cái buổi sáng ông đi an dưỡng ở Bệnh viện Chợ Rẫy đó, tôi đã đau đớn chứng kiến toàn bộ bao nỗi hy vọng thất vọng đan xen nhau, bóp nghẹt tim ông, làm âu lo và buốt đau bao trái tim những người thân yêu, những đồng nghiệp, và những độc giả. Tôi đã được chứng kiến giây phút người ta đưa ông ra khỏi phòng mổ, sau một một cuộc đại phẫu, ông nằm bất động, mặt sưng vù, nặng nhọc thở với phần phổi còn lại. Tôi cũng chứng kiến chứng di căn quái ác đã gặm mòn cơ thể, làm méo dần và cuối cùng làm mất hẳn tư duy ông. Câu cuối cùng tôi được nghe ông nói với tôi là về chuyện bắt cá: “Tôi vẫn nhớ tôi với ông cùng bắt cóc (ý ông nói bắt cá). Tôi đã làm cho ông một hũ mắm mà ông không lấy”. Khi ấy tôi đang làm chủ nhiệm đề tài chiết xuất thuốc chống ung thư, biết bệnh ông đã ở giai đoạn không thuốc nào chữa được, nhưng tôi vẫn lấy trộm một chai dịch chiết thuốc đưa cho cô Thường. Người ta còn mách cô cho ông uống phương thuốc bột than xác một loại rắn. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lần cuối cùng tôi chở anh Hoài Anh lên thăm ông. Lúc này, từ đỉnh cao thông minh, ông đã thành người vô thức. Ông ngồi, hai tay giơ trước mặt trong tư thế đọc báo ngày xưa. Vàng Anh nhét vào tay ông tờ báo. Ông ngơ ngác đọc theo phản xạ mà không đọc gì cả. Rồi đến một chiều, đang ăn cơm, tôi chợt thấy hình ông trên màn hình ti-vi, bát cơm trên tay tôi rơi xuống, tôi nói với vợ cái tin hệ trọng: “Chú Chế Lan Viên mất rồi!”. Trong ngày liệm, tôi vội vàng đến phòng tang lễ Bệnh viện Thống Nhất để nhìn mặt ông lần cuối. Khi người ta mang thi thể ông ra khỏi ngăn lạnh, tôi thấy mặt ông quắt lại như già đi cả ngàn tuổi. Người ta đã trải cho ông một tấm nệm rất dầy, rất êm bằng trà và bông gòn trong chiếc quan tài tốt. Ông nằm trong quan tài mà như nằm trong mây ở tận chín tầng trời. Nhìn ông, tôi bỗng nhớ đến hai câu thơ của Hàn Mặc Tử mà ông đã trích dẫn, mở đầu cho bài tựa mà ông đã viết:
                  Một mai kia ở bên khe nước ngọc
                  Với sao sương anh nằm chết như trăng
         Tôi chưa được thấy những câu thơ viết về cái chết lại đẹp đẽ sang trọng như thế bao giờ!
         Lúc này tôi thấy những hạt nước đóng băng trên trán ông đã chảy ra trông như những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi của cả một đời lao lực. Để viết nên những câu thơ đẹp nhất, ông đã một đời tha hương, vượt qua nỗi buồn, qua máu lửa, qua gian khó, qua bệnh tật, qua những mối quan hệ lắm rắc rối của người đời. Tôi đã vĩnh biệt ông bằng cách lau đi trên trán ông những giọt lao lực ấy!
         Trong lễ hỏa táng, tôi đứng trước cửa lò, bên phải là Thắm đang lom khom coi và kêu lên khi thấy lò bên cạnh rừng rực lửa. Còn bên này tôi cũng thấy ngọn lửa trùm lên quan tài ông. Tôi như thấy linh hồn ông bay lên theo ngọn lửa, vĩnh biệt cái cõi thế có lắm đam mê, lắm niềm vui, nhưng cũng nhiều đau khổ và cực nhọc này!
        
Bình Thạnh, 1998

Viết thêm, 31-12-2008